Sàng lọc trước sinh là việc làm cần thiết để tầm soát trước sinh, giúp xác định được nguy cơ dị tật cho thai nhi từ khi còn trong bụng mẹ.
nipt là gì ? sàng lọc dựa trên việc xét nghiệm các cfDNA ngoại bào (tức DNA tự do của thai nhi có trong máu của người mẹ) nhờ vào công nghệ Giải trình tự gen thế hệ mới NGS (Next-Generation Sequencing).
Sàng lọc trước sinh là sử dụng những phương pháp thăm dò trong thời kỳ thai nghén, nhằm phát hiện các bất thường về hình thái hay những bất thường về di truyền của thai nhi. Phương pháp này giúp dự đoán sớm các dị tật bẩm sinh của thai nhi, từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời nhằm giảm tỉ lệ trẻ sơ sinh tử vong, tỉ lệ trẻ bị dị tật, khuyết tật nặng nề và góp phần nâng cao chất lượng dân số.
NIPT là phương pháp sàng lọc trước sinh có độ nhạy và độ chính xác cao, tỷ lệ dương tính giả và âm tính giả thấp (dưới 1%). Đây đang được coi là một phương pháp sàng lọc hiện đại, khắc phục những nhược điểm độ chính xác thấp, tỷ lệ dương tính giả và âm tính giả cao của siêu âm và sàng lọc huyết thanh, đồng nghĩa với việc vẫn còn bỏ qua nhiều trường hợp có bệnh mà không được phát hiện hoặc có kết quả sàng lọc nguy cơ cao nhưng trên thực tế là thai nhi không có bệnh, dẫn đến các chỉ định chọc dò dịch ối tràn lan, làm tăng lo lắng và nguy cơ tai biến cho thai phụ.
Trong máu phụ nữ mang thai, tồn tại một lượng nhỏ các mảnh DNA có nguồn gốc từ thai nhi, là kết quả của quá trình phân hủy của tế bào thai nhi trong cơ thể người mẹ. ADN tự do của thai nhi có mặt trong cơ thể người mẹ trong suốt quá trình mang thai và bị xóa khỏi cơ thể người mẹ chỉ vài giờ sau khi sinh, vì vậy nó đặc trưng cho tình trạng của thai nhi hiện tại. Tìm hiểu thêm về siêu âm dị tật thai nhi ở đâu tốt nhất
Vì vậy, thông qua việc phân tích ADN tự do có mặt trong máu thai phụ, có thể dự đoán được các bất thường di truyền của thai nhi, từ đó có các biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời.
Các thai phụ có nguy cơ cao mang thai chứa bất thường về di truyền nên thực hiện xét nghiệm sàng lọc trước sinh để đảm bảo thai nhi được sinh ra với tình trạng và thể trạng bình thường. Cụ thể, các đối tượng có nguy cơ cao bao gồm:
Thai phụ có ý định thực hiện xét nghiệm nipt là gì trước hết nên được tư vấn bởi bác sĩ chuyên khoa. Sau đó, thai phụ có thể đến các trung tâm cung cấp dịch vụ xét nghiệm sàng lọc trước sinh không xâm lấn trên toàn quốc để đăng ký thực hiện xét nghiệm. Mỗi thai phụ sẽ được lấy khoảng 20 ml máu trong tĩnh mạch để sử dụng cho quá trình xét nghiệm.
NIPT có thể được thực hiện khá sớm, vào khoảng tuần thứ 10 trở đi của thai kì. Thai phụ cần siêu âm định kì để dự đoán tuổi thai, đơn thai hoặc đa thai trước khi thực hiện xét nghiệm NIPT để đảm bảo độ chính xác của xét nghiệm.
Theo khảo cứu của WHO, mỗi năm trên thế giới có khoảng 8 triệu trẻ sinh ra mắc một dị tật bẩm sinh. Mỗi năm, ở Việt Nam có khoảng 1,5 triệu em bé sinh ra, trong đó có khoảng 1.800 trẻ bị Hội chứng Down (Trisomy 21), khoảng 250 trẻ bị Hội chứng Edwards (Trisomy 18), khoảng 1.500 trẻ bị dị tật ống thần kinh cùng nhiều dị tật bẩm sinh khác.
Vì vậy, Sàng lọc trước sinh là việc làm cần thiết để tầm soát trước sinh, giúp xác định được nguy cơ dị tật cho thai nhi từ khi còn trong bụng mẹ. Với công nghệ tiên tiến và nhiều ưu thế vượt trội, phương pháp sàng lọc trước sinh không xâm lấn NIPT (Non-invasive Prenatal Test) đang được coi là “chìa khóa vàng” trong việc chẩn đoán trước sinh.
Sàng lọc trước sinh không xâm lấn (non-invasive prenatal test – NIPT) là xét nghiệm sàng lọc trước sinh thực hiện trên mẫu máu của thai phụ, vì vậy không gây ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi.
Các bất thường về di truyền được sàng lọc ở đây chủ yếu là các bất thường về số lượng nhiễm sắc thể (NST), như thể lệch bội NST 21 (hội chứng Down), thể lệch bội NST 18 (Hội chứng Edwards), thể lệch bội NST 13 (hội chứng Patau) và các bất thường số lượng nhiễm sắc thể giới tính như: Monosomy X ( Hội chứng Turner, 0X), thể tam nhiễm X (trisomy X), XXY ( hội chứng Klinefelter),... Ngoài ra, xét nghiệm nipt là gì còn phát hiện được một số đột biến vi mất đoạn phổ biến khác.
Thứ Năm, 28 tháng 6, 2018
Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2018
Mang Thai Mấy Tháng Đầu Tiêm Vắc Xin Phòng Bệnh Gì
Vắc-xin ngừa ho gà, uốn ván bạn đã chích rất nhiều năm về trước đã dần giảm, mất tác dụng qua năm tháng nên bạn cần chích lại. Viêm gan siêu vi B cũng là loại vắc-xin không bảo vệ mãi mãi, nên cần chích lại nếu hết/không còn đủ kháng thể.
Trong các vắc-xin này chỉ có cúm là có thể chích nếu đã mang thai. Tuy nhiên, bạn nên tham khảo thêm ý kiến nơi tiêm chủng về loại vắc-xin và thời điểm chích phù hợp.
Theo các khuyến cáo sau này, bạn cũng có thể chích ngừa ho gà, trước khi mang thai hoặc khi thai được 20 tuần.
Riêng uốn ván là vắc-xin chích trong thai kỳ: một mũi trong tam cá nguyệt thứ hai (3 tháng giữa), chích nhắc thêm 1 mũi sau 1 tháng và trước ngày dự sinh tối thiểu 1 tháng.
Đây đều là các bệnh có nguy cơ gây nguy hiểm lớn cho cả mẹ lẫn con nếu mắc khi người mẹ đang mang thai, hoặc nguy hiểm cho trẻ sơ sinh.
Với một số loại vắc-xin, tác dụng chủ yếu nằm ở con: khi người mẹ chích đủ, con sẽ được bảo vệ trong quãng thời gian còn nhỏ, chưa thể tiêm trực tiếp vắc-xin đó. Quan trọng nhất là uốn ván, nguy cơ tử vong cao ở trẻ sơ sinh nếu mắc phải; việc tiêm cho mẹ chủ yếu để dự phòng nguy cơ này.
Ở góc độ chuyên môn, thai phụ tuổi vị thành niên đối mặt với rất nhiều tai biến sản khoa, nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe, tính mạng của mẹ và bé trong suốt thai kỳ và trong cuộc "vượt cạn". Trẻ vị thành niên mang thai, sinh con có tỷ lệ trẻ dị tật cao. Sau sinh, nếu các em không được người hân quan tâm, dễ dẫn đến trầm cảm, rối loạn tâm thần...
Nhiều biến chứng nguy hiểm cho cả mẹ và thai nhi
Nói về những nguy cơ khi mang thai trong độ tuổi vị thành niên, theo các bác sĩ sản khoa cho biết, tuổi vị thành niên (dưới 18 tuổi) có cấu tạo bộ phận sinh sản chưa hoàn thiện về chức năng. Vì vậy, mang thai ở tuổi này, sản phụ dễ gặp các nguy cơ dọa sảy, đẻ non. Làm mẹ khi quá trẻ, cơ thể chưa phát triển đầy đủ dẫn đến thiếu máu, thai kém phát triển, dễ bị chết lưu hoặc sinh con thiếu cân, suy dinh dưỡng cao.
Ngoài ra, không ít trường hợp có bất thường về bệnh lý (do chưa tầm soát) nên không có khả năng phát hiện những nguy cơ biến chứng trong quá trình thai kỳ. Chưa kể ở độ tuổi này, kiến thức hiểu biết làm mẹ của không ít các bạn nữ còn hạn chế nên chưa biết dự phòng, không tự đánh giá được những nguy cơ có thể gây nên biến chứng cho cơ thể trong lúc mang thai.
Bên cạnh đó, ở độ tuổi quá trẻ, bộ khung xương chậu của bạn nữ chưa giãn nở như người trưởng thành gây cản trở quá trình chuyển dạ dẫn tới sanh khó có thể phải can thiệp bằng các thủ thuật và phẫu thuật. Tìm hiểu thêm về mang thai 3 tháng đầu
Bàn về thực trạng trẻ vị thành niên mang thai, theo các chuyên gia về tâm lý và y tế, vấn đề cốt lõi là chú trọng công tác tuyên truyền giáo dục mang tính dự phòng. Giáo dục giới tính giúp các em hiểu biết đầy đủ về sức khỏe và quyết định hành vi của bản thân, tránh những điều đáng tiếc xảy ra.
Vắc-xin ngừa ho gà, uốn ván bạn đã chích rất nhiều năm về trước đã dần giảm, mất tác dụng qua năm tháng nên bạn cần chích lại. Viêm gan siêu vi B cũng là loại vắc-xin không bảo vệ mãi mãi, nên cần chích lại nếu hết/không còn đủ kháng thể.
Các vắc-xin chích trong lúc có thai thì chính bác sĩ sản khoa của bạn sẽ yêu cầu và hướng dẫn bạn đi tiêm phòng, bạn không cần lo lắng.
Với trường hợp lỡ mang thai mà không kịp chích các vắc-xin chỉ được chích trước 3-6 tháng, bạn nên phòng ngừa bằng cách trong thai kỳ tránh đi vào nơi đông người, mang khẩu trang thường xuyên, tránh tiếp xúc người có bệnh, vệ sinh kỹ cơ thể và môi trường sống. Chú trọng dinh dưỡng theo khuyến cáo dành cho thai phụ cũng là cách để tăng sức đề kháng.
Chỉ trong 2 ngày 17 và 18/6, Khoa Cấp cứu - Bệnh viện Phụ sản Thành phố Cần Thơ tiếp nhận 3 trường hợp sản phụ chưa tròn 18 tuổi.
Sản phụ P.T.A (16 tuổi, trú tại Vĩnh Long) chia sẻ:biết mình mang thai nhưng không biết làm thế nào, cũng không dám nói chuyện với bố mẹ nên tìm cách quấn bụng thật chặt để che dấu. Điều này dẫn đến sinh non khi thai chỉ vừa 34 tuần.
Một trường hợp khác, sản phụ L.T.Y (15 tuổi, trú tại Hậu Giang) nhập viện với chẩn đoán thai 36 tuần và có nhịp tim thai bất thường/suy thai nên phải mổ cấp cứu. Ca mổ thành công, bé trai chào đời nặng 2.100 gram và đang được theo dõi tại Khoa Nhi – Sơ sinh.
Trên thực tế, ngày càng ghi nhận có nhiều trường hợp mang thai ở độ tuổi còn rất trẻ. Có những trường hợp cá biệt, bé gái mang thai khi chỉ 12 – 13 tuổi.
Theo bác sĩ Nguyễn Hữu Dự - Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Thành phố Cần Thơ, trong 5 tháng đầu năm 2018 mà có gần 100 trường hợp vị thành niên sinh con ở bệnh viện là con số đáng báo động. Các em đến từ vùng nông thôn, vùng sâu và các tỉnh lân cận thành phố.
Thứ Ba, 19 tháng 6, 2018
Bạn Có Biết Xét Nghiệm Máu Có Thể Biết Được Những Bệnh Gì
Ngoài việc xét nghiệm máu, để chuẩn trị chính xác hơn tình trạng của từng bệnh nhân, các bác sĩ còn tiến hành xét nghiệm nước tiểu, để có thể phát hiện các bệnh lý ở thận, đường tiết niệu cùng một vài căn bệnh toàn thân, mà điển hình là bệnh tiểu đường.
Vậy xét nghiệm máu có thể biết được những bệnh gì ? Cần làm gì trước khi xét nghiệm máu và kết quả xét nghiệm máu như thế nào là bình thường? Hãy cùng TassCare giải đáp những thắc mắc đó ngay trong bài viết này nhé.
Phòng hơn chống – phương châm hoàn toàm chuẩn xác trong mọi vấn đề và nhất là đối với sức khoẻ của mỗi chúng ta. Bởi việc phát hiện sớm tình trạng của vấn đề, sẽ giúp công cuộc chữa trị trở nên nhẹ nhàng và nhanh chóng, hơn là việ ckhi tình hình quá nặng và đã thiên chuyển sang các vấn đề khác. Đây cũng chính là vai trò của quá trình xét nghiệm máu, trong việc bảo vệ và duy trì sức khoẻ con người. Vậy xét nghiệm máu có thể biết được những bệnh gì? Mời các bạn cùng theo dõi bài viết dưới đây của chúng tối nhé!
Hiện nay, việc tiến hành xét nghiệm máu để kiểm tra sức khoẻ định kỳ và chuẩn định tình trạng cơ thể, được coi là hình thức vô cùng phổ biến trong ngành y học hiện nay. Quá trình kiểm tra này có thể giúp chúng ta nắm bắt một cách chuẩn xác tình trạng cũng như những căn bệnh mà chúng ta đang mắc phải. Do đó, trước khi xác định xét nghiệm máu có thể cho chúng ta biết được những bệnh gì, thì trước tiên bạn phải hiểu được xét nghiệm máu có thể biết được những bệnh gì?
Với xét nghiệm công thức máu, chúng ta có thể biết được số lượng hồng và bạch cầu, cùng các tế bào máu khác. Do đó, có thể phát hiện được tình trạng thiếu máu hoặc những căn bệnh liên quan đến máu.
Nếu tiến hành xét nghiệm đường máu, người bệnh có thể phát hiện được những căn bệnh như bệnh tiểu đường, nhiễm mỡ máu…
Với trường hợp là xét nghiệm mỡ máu, bao gồm luôn cả hình thức xét nghiệm nồng độ cholesterol và triglyceride trong máu, sẽ giúp chúng ta biết được nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến tim mạch, huyết áp.
Trường hợp khi tiến hành xét nghiệm máu còn có thể phát hiện ra những căn bệnh như viêm gan B hay là HIV… Tìm hiểu thêm về khám dị tật thai nhi ở đâu tốt
Ngoài việc xét nghiệm máu, để chuẩn trị chính xác hơn tình trạng của từng bệnh nhân, các bác sĩ còn tiến hành xét nghiệm nước tiểu, để có thể phát hiện các bệnh lý ở thận, đường tiết niệu cùng một vài căn bệnh toàn thân, mà điển hình là bệnh tiểu đường.
Tóm lại câu trả lời cho bạn khi thắc mắc: xét nghiệm máu có thể biết được những bệnh gì Chính là hình thức kiểm tra này có thể phát hiện ra một số căn bệnh như: bệnh xã hội, lây lan qua con đường tình dục như viêm gan B, HIV, các bệnh về tim mạch, máu… Để có được một cơ thể khoẻ mạnh, để có thể kịp thời điều trị và loại bỏ nhũng căn bệnh trong cơ thể, ngay bây giờ, chúng ta cần tập cho mình thói quen kiểm tra sức khoẻ định kỳ với hình thức xét nghiệm máu.
Thời điểm tốt nhất để lấy mẫu máu xét nghiệm là buổi sáng. Khi lấy mẫu máu, trong vòng 12 tiếng trước đó cần nhịn ăn, không uống nước ngọt, nước hoa quả, sữa, rượu chè… Các chỉ số sinh hóa máu của một số xét nghiệm nếu làm không đúng thời điểm, sau ăn hoặc sau khi dùng các chất kích thích sẽ cho kết quả không chính xác.
Ngoài ra, số lượng các tiểu cầu sút giảm còn có thể xảy ra bởi nguyên nhân chảy máu kéo dài hoặc do các bệnh lý khác trong cơ thể. Ngược lại, khi các tiểu cầu đột nhiên tăng nhanh một cách đột biến, thì đây chính là sự cảnh báo một sự bất thường liên quan đến xương tuỷ hoặc một triệu chứng viêm nặng nào đó của cơ thể.
Xét nghiệm máu được tiến hành như thế nào?
Theo nguyên tắc trong y học, trước khi bước vào quá trình xét nghiệm máu, bệnh nhân tuyệt đối không được ăn bất cứ một loại thức ăn nào, trong vòng 12 tiếng đồng hồ.
Xét nghiệm máu hay còn gọi là xét công nghiệm công thức máu, quá trình này được tiến hành trên sở xét nghiệm để tính số lượng các tế bào trong máu và là một dạng xét nghiệm được ứng dụng phổ biến nhất, trong ngành y học hiện nay. Các chuyên gia hoặc bác sĩ có thể tiến hành cho bệnh nhân xét nghiệm máu vì rất nhiều lý do. Đây có thể là một trong những hình thức kiểm tra sức khoẻ định kỳ bắt buộc hay là phương tiện để tầm soát, và cũng có thể là một xét nghiệm để dụng theo dõi, hỗ trợ cho một vài biện pháp chữa trị nào đó.
Bên cạnh đó, nó cũng có thể được tiến hành với mục đích đánh giá thể trạng của bệnh nhân, dựa trên các triệu chứng của họ. Ví dụ như số lượng bạch cầu tang, có thể đây là dấu hiệu biến động và cảnh báo cho bạn rằng, cơ thể của mình đang mắc phải một tình trạng nhiễm trùng nào đó, và ở một nơi nào đó, hay là một tín hiệu thong báo cho việc cơ thể đang chuẩn bị đối mặt với một căn bệnh ác tinh nào đó. Bởi việc tăng giảm thất thường của các bạch cầu có mối liên hệ mật thiết đến tuỷ xương hay một số dược phẩm điều trì như thuốc hoá trị…
Mặt khác, có thể là tình trạng biến đổi của các tế bào hồng cầu hay hermoglobin. Điều này chúng tỏ rằng, cơ thể bạn đang trong tình trạng thiếu máu, do các tác nhân khác nhau từ bên ngoài và bên trong. Những tác nhân khiến số lượng hồng cầu hay hermoglobin có thể là những căn bệnh lien quan đến tuỷ xương hay do nồng độ oxy giảm sút ảnh hưởng trực tiếp.
Tiếp đến, các bác sĩ sẽ tiến hành xét nghiệm máu bằng cách lấy khoảng một vài mililit máu trực tiếp từ tĩnh mặt, bằng phương tiện là kim tiêm đã được tiệt trùng. Sao đó, mẫu máu này sẽ được đưa đến phòng xét nghiệm để kiểm tra và phân tích. Lúc này, các phép tính kiểm ra sẽ được thực hiện thông qua một loại máy, với khả năng vô cùng đặc biệt trong việc phân tích những thành phần khác nhau trong máu, chỉ chưa đầy 1 phút.
Các chỉ số trung bình trong một thể tích máu, ở công thức máu ở mỗi người khoẻ mạnh bình thường là từ 4.300 – 10.800 tế bào/mm3 bạch cầu; 4,2 – 5,9 triệu tế bào/cm3 hồng cầu; 150.000 – 400.000 tế bào/cm3 tiểu cầu. Trường hợp khi các chỉ số này vượt mức tỷ lệ trên, thì chứng tỏ cơ thể của bạn đang trong tình trạng bất thường.
Được coi là một trong những hình thức kiểm tra và chuẩn đoán chuẩn xác nhất tình trạng sức khoẻ, nên khi tiến hành xét nghiệm máu chúng ta có thể xác định và phát hiện ra một số bệnh lý trong cơ thể sau đây:
Phòng hơn chống – phương châm hoàn toàm chuẩn xác trong mọi vấn đề và nhất là đối với sức khoẻ của mỗi chúng ta. Bởi việc phát hiện sớm tình trạng của vấn đề, sẽ giúp công cuộc chữa trị trở nên nhẹ nhàng và nhanh chóng, hơn là việ ckhi tình hình quá nặng và đã thiên chuyển sang các vấn đề khác. Đây cũng chính là vai trò của quá trình xét nghiệm máu, trong việc bảo vệ và duy trì sức khoẻ con người. Vậy xét nghiệm máu có thể biết được những bệnh gì? Mời các bạn cùng theo dõi bài viết dưới đây của chúng tối nhé!
Hiện nay, việc tiến hành xét nghiệm máu để kiểm tra sức khoẻ định kỳ và chuẩn định tình trạng cơ thể, được coi là hình thức vô cùng phổ biến trong ngành y học hiện nay. Quá trình kiểm tra này có thể giúp chúng ta nắm bắt một cách chuẩn xác tình trạng cũng như những căn bệnh mà chúng ta đang mắc phải. Do đó, trước khi xác định xét nghiệm máu có thể cho chúng ta biết được những bệnh gì, thì trước tiên bạn phải hiểu được xét nghiệm máu có thể biết được những bệnh gì?
Với xét nghiệm công thức máu, chúng ta có thể biết được số lượng hồng và bạch cầu, cùng các tế bào máu khác. Do đó, có thể phát hiện được tình trạng thiếu máu hoặc những căn bệnh liên quan đến máu.
Nếu tiến hành xét nghiệm đường máu, người bệnh có thể phát hiện được những căn bệnh như bệnh tiểu đường, nhiễm mỡ máu…
Với trường hợp là xét nghiệm mỡ máu, bao gồm luôn cả hình thức xét nghiệm nồng độ cholesterol và triglyceride trong máu, sẽ giúp chúng ta biết được nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến tim mạch, huyết áp.
Trường hợp khi tiến hành xét nghiệm máu còn có thể phát hiện ra những căn bệnh như viêm gan B hay là HIV… Tìm hiểu thêm về khám dị tật thai nhi ở đâu tốt
Ngoài việc xét nghiệm máu, để chuẩn trị chính xác hơn tình trạng của từng bệnh nhân, các bác sĩ còn tiến hành xét nghiệm nước tiểu, để có thể phát hiện các bệnh lý ở thận, đường tiết niệu cùng một vài căn bệnh toàn thân, mà điển hình là bệnh tiểu đường.
Tóm lại câu trả lời cho bạn khi thắc mắc: xét nghiệm máu có thể biết được những bệnh gì Chính là hình thức kiểm tra này có thể phát hiện ra một số căn bệnh như: bệnh xã hội, lây lan qua con đường tình dục như viêm gan B, HIV, các bệnh về tim mạch, máu… Để có được một cơ thể khoẻ mạnh, để có thể kịp thời điều trị và loại bỏ nhũng căn bệnh trong cơ thể, ngay bây giờ, chúng ta cần tập cho mình thói quen kiểm tra sức khoẻ định kỳ với hình thức xét nghiệm máu.
Thời điểm tốt nhất để lấy mẫu máu xét nghiệm là buổi sáng. Khi lấy mẫu máu, trong vòng 12 tiếng trước đó cần nhịn ăn, không uống nước ngọt, nước hoa quả, sữa, rượu chè… Các chỉ số sinh hóa máu của một số xét nghiệm nếu làm không đúng thời điểm, sau ăn hoặc sau khi dùng các chất kích thích sẽ cho kết quả không chính xác.
Ngoài ra, số lượng các tiểu cầu sút giảm còn có thể xảy ra bởi nguyên nhân chảy máu kéo dài hoặc do các bệnh lý khác trong cơ thể. Ngược lại, khi các tiểu cầu đột nhiên tăng nhanh một cách đột biến, thì đây chính là sự cảnh báo một sự bất thường liên quan đến xương tuỷ hoặc một triệu chứng viêm nặng nào đó của cơ thể.
Xét nghiệm máu được tiến hành như thế nào?
Theo nguyên tắc trong y học, trước khi bước vào quá trình xét nghiệm máu, bệnh nhân tuyệt đối không được ăn bất cứ một loại thức ăn nào, trong vòng 12 tiếng đồng hồ.
Xét nghiệm máu hay còn gọi là xét công nghiệm công thức máu, quá trình này được tiến hành trên sở xét nghiệm để tính số lượng các tế bào trong máu và là một dạng xét nghiệm được ứng dụng phổ biến nhất, trong ngành y học hiện nay. Các chuyên gia hoặc bác sĩ có thể tiến hành cho bệnh nhân xét nghiệm máu vì rất nhiều lý do. Đây có thể là một trong những hình thức kiểm tra sức khoẻ định kỳ bắt buộc hay là phương tiện để tầm soát, và cũng có thể là một xét nghiệm để dụng theo dõi, hỗ trợ cho một vài biện pháp chữa trị nào đó.
Bên cạnh đó, nó cũng có thể được tiến hành với mục đích đánh giá thể trạng của bệnh nhân, dựa trên các triệu chứng của họ. Ví dụ như số lượng bạch cầu tang, có thể đây là dấu hiệu biến động và cảnh báo cho bạn rằng, cơ thể của mình đang mắc phải một tình trạng nhiễm trùng nào đó, và ở một nơi nào đó, hay là một tín hiệu thong báo cho việc cơ thể đang chuẩn bị đối mặt với một căn bệnh ác tinh nào đó. Bởi việc tăng giảm thất thường của các bạch cầu có mối liên hệ mật thiết đến tuỷ xương hay một số dược phẩm điều trì như thuốc hoá trị…
Mặt khác, có thể là tình trạng biến đổi của các tế bào hồng cầu hay hermoglobin. Điều này chúng tỏ rằng, cơ thể bạn đang trong tình trạng thiếu máu, do các tác nhân khác nhau từ bên ngoài và bên trong. Những tác nhân khiến số lượng hồng cầu hay hermoglobin có thể là những căn bệnh lien quan đến tuỷ xương hay do nồng độ oxy giảm sút ảnh hưởng trực tiếp.
Tiếp đến, các bác sĩ sẽ tiến hành xét nghiệm máu bằng cách lấy khoảng một vài mililit máu trực tiếp từ tĩnh mặt, bằng phương tiện là kim tiêm đã được tiệt trùng. Sao đó, mẫu máu này sẽ được đưa đến phòng xét nghiệm để kiểm tra và phân tích. Lúc này, các phép tính kiểm ra sẽ được thực hiện thông qua một loại máy, với khả năng vô cùng đặc biệt trong việc phân tích những thành phần khác nhau trong máu, chỉ chưa đầy 1 phút.
Các chỉ số trung bình trong một thể tích máu, ở công thức máu ở mỗi người khoẻ mạnh bình thường là từ 4.300 – 10.800 tế bào/mm3 bạch cầu; 4,2 – 5,9 triệu tế bào/cm3 hồng cầu; 150.000 – 400.000 tế bào/cm3 tiểu cầu. Trường hợp khi các chỉ số này vượt mức tỷ lệ trên, thì chứng tỏ cơ thể của bạn đang trong tình trạng bất thường.
Được coi là một trong những hình thức kiểm tra và chuẩn đoán chuẩn xác nhất tình trạng sức khoẻ, nên khi tiến hành xét nghiệm máu chúng ta có thể xác định và phát hiện ra một số bệnh lý trong cơ thể sau đây:
Thứ Năm, 14 tháng 6, 2018
Những Thực Phẩm Phụ Nữ Mang Thai Không Nên Dùng
Sự thay đổi hormone trong cơ thể, đặc biệt khi nồng độ estrogen tăng cao là nguyên nhân gây cảm giác ngứa bụng.
Ngứa bụng khi mang thai là tình trạng bình thường vì da bụng sẽ phải căng ra theo sự phát triển của con yêu. Tuy nhiên, nếu mẹ bầu quá khó chịu thì phải làm sao?
Điều này nghe có vẻ kỳ cục nhưng chỉ có phụ nữ mang thai mới hiểu được những khó khăn khi phải kiểm soát thói quen gãi bụng bầu. Tại sao mẹ bầu phải làm vậy? Hãy cùng Hello Bacsi tìm hiểu qua bài viết sau nhé.
Thông thường, bụng bị ngứa là do da căng ra. Đôi khi cả ngực, lòng bàn tay và lòng bàn chân cũng bị ngứa. Điều này do sự thay đổi của hormone cũng như việc da phát triển khi mang thai. Nếu ngứa quá nhiều thì mẹ bầu nên đến gặp bác sĩ.
Ngứa bụng thường xuất hiện ở giai đoạn giữa, tức là từ tuần thứ 13 – 28. Tuy nhiên, hiện tượng này cũng có thể xảy ra trong giai đoạn đầu và giai đoạn cuối. Nếu mang thai đôi, mẹ bầu sẽ bị ngứa nhiều hơn vì da bụng phải căng ra nhiều.
Lưu ý khi dùng cá biển
Trong cá biển có chứa lượng protein rất là cao và đây cũng là nguồn thực phẩm cung cấp tinh dầu lành mạnh cho mẹ. Nhưng khi sử dụng thì các bạn cũng cần phải tìm hiểu và lựa chọn những loại cá tốt cho mẹ và thai nhi nhé. Một số loại cá biển nên tránh như: cá thu, cá kiếm, cá mập,…
Tránh vận động
tháng đầu là thời gian mẹ bầu cần được nghỉ ngơi, không nên vận động mạnh. Tại sao? 3 tháng đầu là thời điểm nhạy cảm rất dễ dẫn đến tình trạng sảy thai. Vì vậy, thời điểm này mẹ bầu nên tránh các trò chơi cảm giác mạnh, ngay cả việc vận động mạnh cũng nên hạn chế nhé. Tìm hiểu thêm về bà bầu không nên ăn gì
Tránh các môn thể thao hoạt động mạnh
Các môn thể thao mạnh cũng rất là nguy hiểm. Nó không chỉ ảnh hưởng đến mẹ mà còn ảnh hưởng đến thai nhi. Nếu không cẩn thận rất dễ dẫn đến tình trạng sảy thai.
Để tốt cho sức khỏe mẹ và bé thì tốt nhất bạn nên đi bộ, tập yoga để tăng cường sức khỏe cũng như là sự dẻo dai.
Trên đây là các lưu ý mẹ bầu cần tránh trong 3 tháng đầu để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của thai nhi. Nếu như còn vấn đề gì thắc mắc thì bạn vui lòng tìm gặp các bác sĩ chuyên khoa để được tư vấn chi tiết và cụ thể nhất nhé.
Ngứa bụng là một triệu chứng khá phổ biến khi mang thai do hiện tượng sau đây:
Thông thường, ngứa bụng là do tử cung đang phát triển khiến da bị căng ra, dẫn đến tình trạng da mất độ ẩm và cảm thấy ngứa.
Sự thay đổi hormone trong cơ thể, đặc biệt khi nồng độ estrogen tăng cao là nguyên nhân gây cảm giác ngứa bụng.
Trong thời kỳ mang thai, đặc biệt là 3 tháng đầu thì các mẹ nên tránh dùng thực phẩm tái sống như: xúc xích, phô mai, thịt tái hoặc là các loại hải sản sống. Đây là nhóm thực phẩm có chứa nhiều vi khuẩn listeria ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe của mẹ bầu và thai nhi.
Không dùng Caffein
Bình thường, cafe cũng có những tác dụng riêng đối với sức khỏe. Nhưng riêng trong thời kỳ mang thai, uống cafe rất dễ dẫn đến tình trạng sảy thai. Không những vậy mà các chất cafein còn là nguyên nhân dẫn đến các triệu chứng như: mất nước, chóng mặt, đâu đầu. Còn đối với trẻ thì sẽ bị nhẹ cân, tăng nhịp tim.
Điều này nghe có vẻ kỳ cục nhưng chỉ có phụ nữ mang thai mới hiểu được những khó khăn khi phải kiểm soát thói quen gãi bụng bầu. Tại sao mẹ bầu phải làm vậy? Hãy cùng Hello Bacsi tìm hiểu qua bài viết sau nhé.
Thông thường, bụng bị ngứa là do da căng ra. Đôi khi cả ngực, lòng bàn tay và lòng bàn chân cũng bị ngứa. Điều này do sự thay đổi của hormone cũng như việc da phát triển khi mang thai. Nếu ngứa quá nhiều thì mẹ bầu nên đến gặp bác sĩ.
Ngứa bụng thường xuất hiện ở giai đoạn giữa, tức là từ tuần thứ 13 – 28. Tuy nhiên, hiện tượng này cũng có thể xảy ra trong giai đoạn đầu và giai đoạn cuối. Nếu mang thai đôi, mẹ bầu sẽ bị ngứa nhiều hơn vì da bụng phải căng ra nhiều.
Lưu ý khi dùng cá biển
Trong cá biển có chứa lượng protein rất là cao và đây cũng là nguồn thực phẩm cung cấp tinh dầu lành mạnh cho mẹ. Nhưng khi sử dụng thì các bạn cũng cần phải tìm hiểu và lựa chọn những loại cá tốt cho mẹ và thai nhi nhé. Một số loại cá biển nên tránh như: cá thu, cá kiếm, cá mập,…
Tránh vận động
tháng đầu là thời gian mẹ bầu cần được nghỉ ngơi, không nên vận động mạnh. Tại sao? 3 tháng đầu là thời điểm nhạy cảm rất dễ dẫn đến tình trạng sảy thai. Vì vậy, thời điểm này mẹ bầu nên tránh các trò chơi cảm giác mạnh, ngay cả việc vận động mạnh cũng nên hạn chế nhé. Tìm hiểu thêm về bà bầu không nên ăn gì
Tránh các môn thể thao hoạt động mạnh
Các môn thể thao mạnh cũng rất là nguy hiểm. Nó không chỉ ảnh hưởng đến mẹ mà còn ảnh hưởng đến thai nhi. Nếu không cẩn thận rất dễ dẫn đến tình trạng sảy thai.
Để tốt cho sức khỏe mẹ và bé thì tốt nhất bạn nên đi bộ, tập yoga để tăng cường sức khỏe cũng như là sự dẻo dai.
Trên đây là các lưu ý mẹ bầu cần tránh trong 3 tháng đầu để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của thai nhi. Nếu như còn vấn đề gì thắc mắc thì bạn vui lòng tìm gặp các bác sĩ chuyên khoa để được tư vấn chi tiết và cụ thể nhất nhé.
Ngứa bụng là một triệu chứng khá phổ biến khi mang thai do hiện tượng sau đây:
Thông thường, ngứa bụng là do tử cung đang phát triển khiến da bị căng ra, dẫn đến tình trạng da mất độ ẩm và cảm thấy ngứa.
Sự thay đổi hormone trong cơ thể, đặc biệt khi nồng độ estrogen tăng cao là nguyên nhân gây cảm giác ngứa bụng.
Trong thời kỳ mang thai, đặc biệt là 3 tháng đầu thì các mẹ nên tránh dùng thực phẩm tái sống như: xúc xích, phô mai, thịt tái hoặc là các loại hải sản sống. Đây là nhóm thực phẩm có chứa nhiều vi khuẩn listeria ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe của mẹ bầu và thai nhi.
Không dùng Caffein
Bình thường, cafe cũng có những tác dụng riêng đối với sức khỏe. Nhưng riêng trong thời kỳ mang thai, uống cafe rất dễ dẫn đến tình trạng sảy thai. Không những vậy mà các chất cafein còn là nguyên nhân dẫn đến các triệu chứng như: mất nước, chóng mặt, đâu đầu. Còn đối với trẻ thì sẽ bị nhẹ cân, tăng nhịp tim.
Thứ Tư, 13 tháng 6, 2018
Thực Phẩm Không Nên Ăn Khi Mang Thai
Việc sinh đẻ thường diễn ra sau khoảng 38 tuần từ khi thụ thai, ví dụ, khoảng 40 tuần từ lần có kinh bình thường cuối cùng (LNMP) với loài người.
Việc mang thai ở loài người được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất trong số tất cả các loài động vật có vú. Sản khoa là lĩnh vực phẫu thuật nghiên cứu và chăm sóc những trường hợp thai nghén có nguy cơ cao. Thuật đỡ đẻ là lĩnh vực phi phẫu thuật chăm sóc thai nghén và phụ nữ mang thai.
Việc sinh đẻ thường diễn ra sau khoảng 38 tuần từ khi thụ thai, ví dụ, khoảng 40 tuần từ lần có kinh bình thường cuối cùng (LNMP) với loài người. Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa thời kỳ sinh đẻ bình thường trong khoảng 37 tới 42 tuần. Việc tính toàn ngày sinh liên quan tới thời kỳ giả định thông thường 28 ngày.
Nhiều mẹ bầu chưa thể nhận ra mình đang có thai trong 1 đến 2 tuần đầu tiên, do những triệu chứng mang thai trong giai đoạn vẫn này còn chưa rõ rệt. Có chăng chỉ là một vài triệu chứng ban đầu như mệt mỏi, thất thường trong tâm trạng, hay thường xuyên buồn tiểu mà thôi. Nhưng hầu hết các mẹ thường nhầm lẫn đây là những triệu chứng trước khi có kinh hơn là có thai.
Mẹ bầu khi mới mang thai từ 1 đến 2 tuần thường vẫn còn trong một giai đoạn gọi là chu kỳ kinh nguyệt. Chu kỳ này thường kéo dài khoảng 28 ngày, dù đôi khi nó chỉ kéo dài 24 ngày hoặc thậm chí lên đến 35 ngày. Chu kỳ kinh nguyệt thường bắt đầu khi trứng rụng khỏi buồng và di chuyển đến ống dẫn trứng, nơi trứng được tiếp xúc với tinh dịch và được thụ tinh. Từ đây, trứng đã được thụ tinh tiếp tục di chuyển qua ống dẫn trứng, nơi quá trình cấy ghép thai nhi chính thức diễn ra.
Một số người suy đoán rằng các mẹ bầu vẫn chưa thật sự mang thai dù đã sang tuần đầu tiên, do quá trình thụ tinh chỉ hoàn toàn diễn ra trong tuần mang thai thứ 2. Đó là lý do vì sao rất nhiều ca mang thai vẫn chưa thể được phát hiện trong tuần thứ nhất.
Tiếp xúc với khói thuốc lá
Hút thuốc là điều tuyệt đối không nên trong khi mang thai, ngoài ra hít phải khói thuốc người khác hút cũng có thể dẫn đến sẩy thai và sinh non, sinh con nhẹ cân và tử vong sớm. Vì vậy, hãy tránh xa những người hút thuốc để phòng ngừa những biến chứng trong thai kỳ.
Uống rượu
Các bà bầu nên nhớ rằng không có giới hạn an toàn của rượu và tốt hơn cả là tránh xa nó trong khi mang thai. Ngay cả khi mẹ chỉ uống lượng rượu nhỏ cũng có thể gây hội chứng rượu bào thai có thể dẫn tới những khuyết tật bẩm sinh và chậm phát triển tâm thần.
Tự ý dùng thuốc
Hãy tránh dùng các loại thuốc cho dù là thảo dược hay các thuốc không kê đơn, đặc biệt trong 3 tuần đầu của thai kỳ. Luôn tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi uống bất kỳ loại thuốc nào vì dùng sai thuốc có thể khiến em bé trong bụng bị gây sứt môi hở hàm ếch, các rối loạn về tim hoặc tổn thương hệ thần kinh. Tìm hiểu thêm về bà bầu uống nước dừa
Làm việc không nghỉ
Nhiều bà bầu có xu hướng làm việc không nghỉ giải lao với mục tiêu hoàn thành công việc trước và về sớm. Điều này là không nên nhất là với phụ nữ có thai vì sẽ gây căng thẳng. Do vậy, hãy lên lịch làm việc với những khoảng thời gian thư giãn nhỏ để nghỉ ngơi.
Các bữa ăn cách xa nhau
Có thể do vội đi làm vào buổi sáng hoặc cố gắng để hoàn thành công việc đúng hạn, nhiều phụ nữ mang thai đã bỏ bữa sáng hoặc ăn không đúng giờ. Bạn nên ăn 3-5 bữa mỗi ngày và có các bữa nhẹ giàu dinh dưỡng như hoa quả, rau mầm, các sản phẩm trứng và rau sống trong ngày.
Ăn vặt tùy hứng
Ăn những món ăn vặt như khoai tây chiên hoặc miếng bánh pizza ở nơi làm việc có thể dẫn đến tăng cân và giữ nước. Hãy ăn vặt một cách khôn ngoan và giữ cho cơ thể đủ nước bằng cách uống nước hoặc nước chanh. Các bà bầu cũng có thể ăn hoa quả tươi, bắp rang và trứng luộc.
Thiếu kế hoạch
Nhiều bà bầu hay bị quên những chi tiết quan trọng như thời hạn hoàn thành công việc hoặc các cuộc hẹn với bác sĩ, dùng thuốc. Hệ quả là họ bị căng thẳng, lo lắng, mệt mỏi vào cuối ngày. Hãy tránh để xảy ra tình trạng này bằng cách ghi lại những việc cần làm và lên kế hoạch thực hiện.
Không bù đủ nước cho cơ thể
Trong thời kì mang thai, việc duy trì lượng nước không thích hợp có thể dẫn tới các biến chứng thai kì. Phụ nữ nên bổ sung thêm 300ml nước /ngày khi đang mang thai và 700ml nước /ngày khi đang cho con bú.
Thiếu ngủ
Thiếu ngủ sẽ ảnh hưởng tới khả năng hoạt động của người mẹ trong ngày hôm sau. Các bà bầu cần ngủ 10-11 giờ mỗi đêm để đảm bảo sự phát triển của thai nhi. Ngoài ra, nghỉ ngơi cũng đảm bảo sự lưu thông máu thích hợp và phòng ngừa sưng phù.
Thiếu hoạt động thể chất
Công việc bận rộn có thể khiến bạn không có thời gian để vận động, nhưng chỉ cần đi bộ xung quanh nơi làm việc cũng có thể giúp bạn giảm nguy cơ đông máu, giãn tĩnh mạch và phù chân. Những bài tập đơn giản và yoga cũng rất có lợi.
Việc sinh đẻ thường diễn ra sau khoảng 38 tuần từ khi thụ thai, ví dụ, khoảng 40 tuần từ lần có kinh bình thường cuối cùng (LNMP) với loài người. Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa thời kỳ sinh đẻ bình thường trong khoảng 37 tới 42 tuần. Việc tính toàn ngày sinh liên quan tới thời kỳ giả định thông thường 28 ngày.
Nhiều mẹ bầu chưa thể nhận ra mình đang có thai trong 1 đến 2 tuần đầu tiên, do những triệu chứng mang thai trong giai đoạn vẫn này còn chưa rõ rệt. Có chăng chỉ là một vài triệu chứng ban đầu như mệt mỏi, thất thường trong tâm trạng, hay thường xuyên buồn tiểu mà thôi. Nhưng hầu hết các mẹ thường nhầm lẫn đây là những triệu chứng trước khi có kinh hơn là có thai.
Mẹ bầu khi mới mang thai từ 1 đến 2 tuần thường vẫn còn trong một giai đoạn gọi là chu kỳ kinh nguyệt. Chu kỳ này thường kéo dài khoảng 28 ngày, dù đôi khi nó chỉ kéo dài 24 ngày hoặc thậm chí lên đến 35 ngày. Chu kỳ kinh nguyệt thường bắt đầu khi trứng rụng khỏi buồng và di chuyển đến ống dẫn trứng, nơi trứng được tiếp xúc với tinh dịch và được thụ tinh. Từ đây, trứng đã được thụ tinh tiếp tục di chuyển qua ống dẫn trứng, nơi quá trình cấy ghép thai nhi chính thức diễn ra.
Một số người suy đoán rằng các mẹ bầu vẫn chưa thật sự mang thai dù đã sang tuần đầu tiên, do quá trình thụ tinh chỉ hoàn toàn diễn ra trong tuần mang thai thứ 2. Đó là lý do vì sao rất nhiều ca mang thai vẫn chưa thể được phát hiện trong tuần thứ nhất.
Tiếp xúc với khói thuốc lá
Hút thuốc là điều tuyệt đối không nên trong khi mang thai, ngoài ra hít phải khói thuốc người khác hút cũng có thể dẫn đến sẩy thai và sinh non, sinh con nhẹ cân và tử vong sớm. Vì vậy, hãy tránh xa những người hút thuốc để phòng ngừa những biến chứng trong thai kỳ.
Uống rượu
Các bà bầu nên nhớ rằng không có giới hạn an toàn của rượu và tốt hơn cả là tránh xa nó trong khi mang thai. Ngay cả khi mẹ chỉ uống lượng rượu nhỏ cũng có thể gây hội chứng rượu bào thai có thể dẫn tới những khuyết tật bẩm sinh và chậm phát triển tâm thần.
Tự ý dùng thuốc
Hãy tránh dùng các loại thuốc cho dù là thảo dược hay các thuốc không kê đơn, đặc biệt trong 3 tuần đầu của thai kỳ. Luôn tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi uống bất kỳ loại thuốc nào vì dùng sai thuốc có thể khiến em bé trong bụng bị gây sứt môi hở hàm ếch, các rối loạn về tim hoặc tổn thương hệ thần kinh. Tìm hiểu thêm về bà bầu uống nước dừa
Làm việc không nghỉ
Nhiều bà bầu có xu hướng làm việc không nghỉ giải lao với mục tiêu hoàn thành công việc trước và về sớm. Điều này là không nên nhất là với phụ nữ có thai vì sẽ gây căng thẳng. Do vậy, hãy lên lịch làm việc với những khoảng thời gian thư giãn nhỏ để nghỉ ngơi.
Các bữa ăn cách xa nhau
Có thể do vội đi làm vào buổi sáng hoặc cố gắng để hoàn thành công việc đúng hạn, nhiều phụ nữ mang thai đã bỏ bữa sáng hoặc ăn không đúng giờ. Bạn nên ăn 3-5 bữa mỗi ngày và có các bữa nhẹ giàu dinh dưỡng như hoa quả, rau mầm, các sản phẩm trứng và rau sống trong ngày.
Ăn vặt tùy hứng
Ăn những món ăn vặt như khoai tây chiên hoặc miếng bánh pizza ở nơi làm việc có thể dẫn đến tăng cân và giữ nước. Hãy ăn vặt một cách khôn ngoan và giữ cho cơ thể đủ nước bằng cách uống nước hoặc nước chanh. Các bà bầu cũng có thể ăn hoa quả tươi, bắp rang và trứng luộc.
Thiếu kế hoạch
Nhiều bà bầu hay bị quên những chi tiết quan trọng như thời hạn hoàn thành công việc hoặc các cuộc hẹn với bác sĩ, dùng thuốc. Hệ quả là họ bị căng thẳng, lo lắng, mệt mỏi vào cuối ngày. Hãy tránh để xảy ra tình trạng này bằng cách ghi lại những việc cần làm và lên kế hoạch thực hiện.
Không bù đủ nước cho cơ thể
Trong thời kì mang thai, việc duy trì lượng nước không thích hợp có thể dẫn tới các biến chứng thai kì. Phụ nữ nên bổ sung thêm 300ml nước /ngày khi đang mang thai và 700ml nước /ngày khi đang cho con bú.
Thiếu ngủ
Thiếu ngủ sẽ ảnh hưởng tới khả năng hoạt động của người mẹ trong ngày hôm sau. Các bà bầu cần ngủ 10-11 giờ mỗi đêm để đảm bảo sự phát triển của thai nhi. Ngoài ra, nghỉ ngơi cũng đảm bảo sự lưu thông máu thích hợp và phòng ngừa sưng phù.
Thiếu hoạt động thể chất
Công việc bận rộn có thể khiến bạn không có thời gian để vận động, nhưng chỉ cần đi bộ xung quanh nơi làm việc cũng có thể giúp bạn giảm nguy cơ đông máu, giãn tĩnh mạch và phù chân. Những bài tập đơn giản và yoga cũng rất có lợi.
Thứ Ba, 12 tháng 6, 2018
Khi Mang Thai Bà Bầu Nên ăn Gì Để Tốt Cho Con
Bác sĩ Weiner – Chủ tịch Sản phụ khoa tại Đại học Kansas (Mỹ) – cho biết: "Rượu đã được chứng minh là có nguy cơ gây ra dị tật bẩm sinh cho thai nhi cũng như đe dọa đến sự phát triển trí não của trẻ. Một chút rượu có thể không ảnh hưởng nhiều đến mẹ nhưng lại là mối đe đọa lớn với thai".
Giai đoạn đầu của thai kỳ, mẹ phải thay đổi nhiều thói quen ăn uống. Việc bà bầu nên ăn gì và lựa chọn thực phẩm tốt cho bà bầu 3 tháng đầu không hẳn là quá khó đối với những mẹ chăm đọc và chăm nấu nướng. Thậm chí, mẹ hoàn toàn có thể “oder” trực tuyến nếu đang bị những cơn ốm nghén viếng thăm.
Bà bầu nên ăn gì trong 3 tháng đầu khá quan trọng, vì nó có thể ảnh huởng đến sự phát triển của thai nhi. Đặc biệt, nếu không bổ sung đủ axit folic cho cơ thể trong giai đoạn này, nguy cơ bị khuyết tật ống thần kinh của bé rất cao
Những dưỡng chất cần thiết trong 3 tháng đầu
Bà bầu nên ăn gì trong 3 tháng đầu thai kỳ rất quan trọng, bởi đây là giai đoạn tế bào phôi đang phân hóa cũng như bắt đầu hình thành các chức năng cơ bản của cơ thể.
Tam cá nguyệt thứ nhất bà bầu không cần ăn quá nhiều nhưng phải đảm bảo đủ dưỡng chất cho thai nhi phát triển. Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo mẹ nên bổ sung thêm khoảng 300 calories mỗi ngày để có thể tăng thêm từ 1 đến 2,5 kg trong thời gian này. Đặc biệt, đừng quên những dưỡng chất quan trọng sau đây để đảm bảo cho sức khỏe của cả mẹ và bé, bầu nhé!
Axit folic: Có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển não và cột sống của thai nhi, các chuyên gia khuyến cáo mẹ bầu nên tăng cường a-xít folic ngay từ lúc mới “nhen nhóm” ý định mang thai. Mỗi ngày mẹ nên chú ý thêm khoảng 400 mg folic trong thực đơn dinh dưỡng khi mang thai của mình.
Sắt: Thiếu máu do thiếu sắt là tình trạng phổ biến trong thai kỳ. Khi cơ thể thiếu sắt, lưu lượng máu cung cấp cho cơ thể mẹ bầu sẽ giảm, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi. Hơn nữa, thiếu sắt cũng là nguyên nhân làm mẹ bầu cảm thấy mệt mỏi, chán ăn.
Canxi: Thai nhi cần canxi để phát triển hệ xương, răng của mình. Nếu không có đủ nhu cầu cần thiết, bé cưng sẽ bào mòn dần canxi trong cơ thể mẹ bầu, tăng nguy cơ mẹ sau sinh bị loãng xương do thiếu canxi.
Protein: Vừa duy trì năng lượng cho cơ thể, bổ sung protein khi mang thai vừa giúp ngăn ngừa một số triệu chứng thần kinh bất thường ở thai nhi. Nguồn năng lượng từ protein thường chiếm từ 10-35% lượng calories cơ thể cần, tương đương với khoảng 55 – 192 gram/ ngày.
Mang thai quả là một giai đoạn nhiều niềm vui nhưng cũng đầy thử thách khi mà có những việc bạn tưởng chừng vô hại lại có thể ảnh hưởng không tốt đến bé. Cùng điểm xem mẹ có “dính” thói quen xấu nào dưới đây không nhé!
Những thực phẩm tốt cho bà bầu nên ăn gì trong 3 tháng đầu thai kỳ
Giai đoạn đầu thai kỳ, nếu thực sự băn khoăn việc bà bầu nên ăn gì mẹ có thể tin tưởng một số thực phẩm sau:
Cá hồi là một trong những loại cá an toàn nhất cho thai kỳ của bạn
Cá hồi: Cá hồi chứa nhiều vitamin D và canxi, là một trong những loại cá an toàn nhất cho thai kỳ của bạn. Thai nhi cần canxi để phát triển hệ xương, răng của mình. Nếu không có đủ nhu cầu cần thiết, bé cưng sẽ bào mòn dần canxi trong cơ thể mẹ bầu, tăng nguy cơ mẹ sau sinh bị loãng xương do thiếu canxi. Lượng omega 3 trong cá hồi cũng hỗ trợ quá trình hình thành và phát triển tế bào não của thai nhi.
Thịt bò: Thịt bò chứa rất nhiều chất sắt, rất tốt cho sức khỏe của mẹ và bé. Thiếu sắt cũng là nguyên nhân làm mẹ bầu cảm thấy mệt mỏi, chán ăn.
Sữa chua: Sữa chua chứa nhiều vitamin D, canxi và các lợi khuẩn rất tốt cho hệ tiêu hóa của bạn. Ngoài ra, sữa chua còn giúp ngăn ngừa triệu chứng táo bón cực kỳ khó chịu trong thai kỳ.
Thực phẩm không được ăn khi mang thai 3 tháng đầu
- Khoai tây mọc mầm
- Quả đào
- Rau má
- Lô hội
- Dứa
- Đu đủ xanh
- Sữa chưa tiệt trùng
Không uống cà phê, rượu bia, không nên ăn quá nhiều
Bác sĩ Weiner – Chủ tịch Sản phụ khoa tại Đại học Kansas (Mỹ) – cho biết: "Rượu đã được chứng minh là có nguy cơ gây ra dị tật bẩm sinh cho thai nhi cũng như đe dọa đến sự phát triển trí não của trẻ. Một chút rượu có thể không ảnh hưởng nhiều đến mẹ nhưng lại là mối đe đọa lớn với thai". Mẹ bầu cũng nên thận trọng với caffeine, chỉ nên sử dụng một lượng nhỏ mỗi ngày để đảm bảo sức khỏe bà mẹ và bé. Tìm hiểu thêm về 3 tháng đầu thai kỳ
Bà mẹ tăng cân quá nhiều trong thai kỳ có thể dẫn đến bệnh tim, béo phì và tiểu đường bẩm sinh cho thai nhi. Thực tế, thai phụ chỉ cần khoảng 300 calo mỗi ngày, vì vậy bạn nên thông minh lựa chọn thực phẩm để vừa đảm bảo đầy đủ đinh dưỡng, vừa tránh ôm đồm ăn quá nhiều.
Súp lơ: Vừa chứa sắt, vừa giàu folic, súp lơ là món ngon không thể thiếu trong thực đơn của mẹ. Axit folic có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển não và cột sống của thai nhi. Mỗi ngày mẹ nên chú ý thêm khoảng 400 mg folic trong thực đơn dinh dưỡng khi mang thai của mình. Ngoài ra, các loại rau có màu xanh như xà lách, cải bẹ xanh. Chúng cũng chứa không ít axit folic. Xà lách trộn dầu giấm là món khai vị ngon lành và là dinh dưỡng cho bà bầu 3 tháng đầu.
Nên ăn đậu để bổ sung protein giúp ngăn ngừa một số triệu chứng bất thường ở thai nhi
Họ hàng nhà đậu: Đậu chứa khá nhiều protein, cần thiết cho sự phát triển mô, cơ bắp của thai nhi cũng như cung cấp năng lượng cho cơ thể mẹ bầu. Protein giúp ngăn ngừa một số triệu chứng thần kinh bất thường ở thai nhi. Nguồn năng lượng từ protein thường chiếm từ 10-35% lượng calories cơ thể cần, tương đương với khoảng 55 – 192 gram/ ngày. Mẹ có thể dùng đậu để nấu chè, vừa dinh dưỡng, vừa dễ làm. Tuy nhiên, đừng cho quá nhiều đường.
Các loại quả có nhiều múi như cam, quýt, bưởi…: Đây là những loại trái có hàm lượng folic cao nhất trong tất cả các loại trái cây. Hơn nữa, cam quýt còn chứa một lượng lớn vitamin C, vừa giúp hỗ trợ hấp thu sắt, vừa rất tốt cho hệ miễn dịch của cơ thể.
Đậu phộng: Theo một nghiên cứu, ăn đậu phộng khi mang thai có thể làm giảm khả năng dị ứng của bé cưng sau khi sinh ra. Hơn nữa, đậu phộng cũng chứa nhiều protein và chất béo, cần thiết cho sự phát triển của thai nhi. Tuy nhiên, ăn nhiều đậu phộng cũng gây ảnh hưởng không tốt đến hệ tiêu hóa, cũng như làm bà bầu nên ăn gì bị nóng trong người. Tốt nhất, mỗi ngày chỉ nên ăn một nhúm nhỏ đậu phộng, bầu ơi.
Trứng: Không chỉ là nguồn bổ sung protein dồi dào, trứng gà là một trong số ít thực phẩm có chứa vitamin D, cần thiết cho sự phát triển xương của thai nhi.
Giai đoạn đầu của thai kỳ, mẹ phải thay đổi nhiều thói quen ăn uống. Việc bà bầu nên ăn gì và lựa chọn thực phẩm tốt cho bà bầu 3 tháng đầu không hẳn là quá khó đối với những mẹ chăm đọc và chăm nấu nướng. Thậm chí, mẹ hoàn toàn có thể “oder” trực tuyến nếu đang bị những cơn ốm nghén viếng thăm.
Bà bầu nên ăn gì trong 3 tháng đầu khá quan trọng, vì nó có thể ảnh huởng đến sự phát triển của thai nhi. Đặc biệt, nếu không bổ sung đủ axit folic cho cơ thể trong giai đoạn này, nguy cơ bị khuyết tật ống thần kinh của bé rất cao
Những dưỡng chất cần thiết trong 3 tháng đầu
Bà bầu nên ăn gì trong 3 tháng đầu thai kỳ rất quan trọng, bởi đây là giai đoạn tế bào phôi đang phân hóa cũng như bắt đầu hình thành các chức năng cơ bản của cơ thể.
Tam cá nguyệt thứ nhất bà bầu không cần ăn quá nhiều nhưng phải đảm bảo đủ dưỡng chất cho thai nhi phát triển. Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo mẹ nên bổ sung thêm khoảng 300 calories mỗi ngày để có thể tăng thêm từ 1 đến 2,5 kg trong thời gian này. Đặc biệt, đừng quên những dưỡng chất quan trọng sau đây để đảm bảo cho sức khỏe của cả mẹ và bé, bầu nhé!
Axit folic: Có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển não và cột sống của thai nhi, các chuyên gia khuyến cáo mẹ bầu nên tăng cường a-xít folic ngay từ lúc mới “nhen nhóm” ý định mang thai. Mỗi ngày mẹ nên chú ý thêm khoảng 400 mg folic trong thực đơn dinh dưỡng khi mang thai của mình.
Sắt: Thiếu máu do thiếu sắt là tình trạng phổ biến trong thai kỳ. Khi cơ thể thiếu sắt, lưu lượng máu cung cấp cho cơ thể mẹ bầu sẽ giảm, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi. Hơn nữa, thiếu sắt cũng là nguyên nhân làm mẹ bầu cảm thấy mệt mỏi, chán ăn.
Canxi: Thai nhi cần canxi để phát triển hệ xương, răng của mình. Nếu không có đủ nhu cầu cần thiết, bé cưng sẽ bào mòn dần canxi trong cơ thể mẹ bầu, tăng nguy cơ mẹ sau sinh bị loãng xương do thiếu canxi.
Protein: Vừa duy trì năng lượng cho cơ thể, bổ sung protein khi mang thai vừa giúp ngăn ngừa một số triệu chứng thần kinh bất thường ở thai nhi. Nguồn năng lượng từ protein thường chiếm từ 10-35% lượng calories cơ thể cần, tương đương với khoảng 55 – 192 gram/ ngày.
Mang thai quả là một giai đoạn nhiều niềm vui nhưng cũng đầy thử thách khi mà có những việc bạn tưởng chừng vô hại lại có thể ảnh hưởng không tốt đến bé. Cùng điểm xem mẹ có “dính” thói quen xấu nào dưới đây không nhé!
Những thực phẩm tốt cho bà bầu nên ăn gì trong 3 tháng đầu thai kỳ
Giai đoạn đầu thai kỳ, nếu thực sự băn khoăn việc bà bầu nên ăn gì mẹ có thể tin tưởng một số thực phẩm sau:
Cá hồi là một trong những loại cá an toàn nhất cho thai kỳ của bạn
Cá hồi: Cá hồi chứa nhiều vitamin D và canxi, là một trong những loại cá an toàn nhất cho thai kỳ của bạn. Thai nhi cần canxi để phát triển hệ xương, răng của mình. Nếu không có đủ nhu cầu cần thiết, bé cưng sẽ bào mòn dần canxi trong cơ thể mẹ bầu, tăng nguy cơ mẹ sau sinh bị loãng xương do thiếu canxi. Lượng omega 3 trong cá hồi cũng hỗ trợ quá trình hình thành và phát triển tế bào não của thai nhi.
Thịt bò: Thịt bò chứa rất nhiều chất sắt, rất tốt cho sức khỏe của mẹ và bé. Thiếu sắt cũng là nguyên nhân làm mẹ bầu cảm thấy mệt mỏi, chán ăn.
Sữa chua: Sữa chua chứa nhiều vitamin D, canxi và các lợi khuẩn rất tốt cho hệ tiêu hóa của bạn. Ngoài ra, sữa chua còn giúp ngăn ngừa triệu chứng táo bón cực kỳ khó chịu trong thai kỳ.
Thực phẩm không được ăn khi mang thai 3 tháng đầu
- Khoai tây mọc mầm
- Quả đào
- Rau má
- Lô hội
- Dứa
- Đu đủ xanh
- Sữa chưa tiệt trùng
Không uống cà phê, rượu bia, không nên ăn quá nhiều
Bác sĩ Weiner – Chủ tịch Sản phụ khoa tại Đại học Kansas (Mỹ) – cho biết: "Rượu đã được chứng minh là có nguy cơ gây ra dị tật bẩm sinh cho thai nhi cũng như đe dọa đến sự phát triển trí não của trẻ. Một chút rượu có thể không ảnh hưởng nhiều đến mẹ nhưng lại là mối đe đọa lớn với thai". Mẹ bầu cũng nên thận trọng với caffeine, chỉ nên sử dụng một lượng nhỏ mỗi ngày để đảm bảo sức khỏe bà mẹ và bé. Tìm hiểu thêm về 3 tháng đầu thai kỳ
Súp lơ: Vừa chứa sắt, vừa giàu folic, súp lơ là món ngon không thể thiếu trong thực đơn của mẹ. Axit folic có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển não và cột sống của thai nhi. Mỗi ngày mẹ nên chú ý thêm khoảng 400 mg folic trong thực đơn dinh dưỡng khi mang thai của mình. Ngoài ra, các loại rau có màu xanh như xà lách, cải bẹ xanh. Chúng cũng chứa không ít axit folic. Xà lách trộn dầu giấm là món khai vị ngon lành và là dinh dưỡng cho bà bầu 3 tháng đầu.
Nên ăn đậu để bổ sung protein giúp ngăn ngừa một số triệu chứng bất thường ở thai nhi
Họ hàng nhà đậu: Đậu chứa khá nhiều protein, cần thiết cho sự phát triển mô, cơ bắp của thai nhi cũng như cung cấp năng lượng cho cơ thể mẹ bầu. Protein giúp ngăn ngừa một số triệu chứng thần kinh bất thường ở thai nhi. Nguồn năng lượng từ protein thường chiếm từ 10-35% lượng calories cơ thể cần, tương đương với khoảng 55 – 192 gram/ ngày. Mẹ có thể dùng đậu để nấu chè, vừa dinh dưỡng, vừa dễ làm. Tuy nhiên, đừng cho quá nhiều đường.
Các loại quả có nhiều múi như cam, quýt, bưởi…: Đây là những loại trái có hàm lượng folic cao nhất trong tất cả các loại trái cây. Hơn nữa, cam quýt còn chứa một lượng lớn vitamin C, vừa giúp hỗ trợ hấp thu sắt, vừa rất tốt cho hệ miễn dịch của cơ thể.
Đậu phộng: Theo một nghiên cứu, ăn đậu phộng khi mang thai có thể làm giảm khả năng dị ứng của bé cưng sau khi sinh ra. Hơn nữa, đậu phộng cũng chứa nhiều protein và chất béo, cần thiết cho sự phát triển của thai nhi. Tuy nhiên, ăn nhiều đậu phộng cũng gây ảnh hưởng không tốt đến hệ tiêu hóa, cũng như làm bà bầu nên ăn gì bị nóng trong người. Tốt nhất, mỗi ngày chỉ nên ăn một nhúm nhỏ đậu phộng, bầu ơi.
Trứng: Không chỉ là nguồn bổ sung protein dồi dào, trứng gà là một trong số ít thực phẩm có chứa vitamin D, cần thiết cho sự phát triển xương của thai nhi.
Thứ Năm, 7 tháng 6, 2018
Mang Thai 3 Tháng Đầu Thai Kỳ Nên Sử Dụng Những Thực Phẩm Nào
Đây là thắc mắc của mọi mẹ bầu, nhất là những chị em lần đầu làm mẹ chưa có nhiều kinh nghiệm. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, mẹ bầu hãy ăn những thực phẩm dưới đây để tốt cho cả mẹ và con.
Khi mang thai, chị em cần bổ sung các loại vitamin như A, B, C, D, E giúp tăng sức đề kháng, hấp thu các dưỡng chất tốt hơn, có thai kỳ khỏe mạnh và đảm bảo sự phát triển bình thường cho thai nhi.
3 tháng đầu thai kỳ nên ăn thực phẩm giàu đạm để cơ thể đủ chất dinh dưỡng, duy trì năng lượng, ổn định lượng đường trong máu. Khi mẹ được cung cấp đủ chất đạm sẽ tạo điều kiện cho con phát triển tốt, đồng thời ngăn ngừa một số triệu chứng thần kinh bất thường ở thai nhi.
Những thực phẩm giàu đạm bà bầu nên bổ sung ngay đó là đạm động vật gồm thịt, sữa, trứng, tôm, cua, cá, ốc; đạm thực vật như đậu tương, đậu xanh, đậu đỏ, lạc, vừng, trái cây như bơ, chuối, măng cụt…
Một quả trứng gà cung cấp 12 vitamin, các khoáng chất tốt cho bà bầu và thai nhi như vitamin A, D, B2, B6, B12, axit folic, canxi, kali, photpho. Trứng gà còn giàu protein, choline, axit béo omega 3 là những chất rất cần thiết cho sự phát triển não bộ và thị giác của trẻ. Nếu hàm lượng cholesterol bình thường thì mẹ bầu có thể ăn 1 quả trứng mỗi ngày. Nếu lượng cholesterol cao thì bà bầu chỉ nên ăn từ 3 – 4 quả trứng/tuần.
Thiếu sắt làm mẹ bầu mệt mỏi, xanh xao, thiếu máu, chậm tăng cân và dễ bị băng huyết khi sinh. Mẹ thiếu máu sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi, dễ gây sảy thai, thai chết non, suy dinh dưỡng bào thai, đẻ non và sau khi sinh ra chậm phát triển trí não.
Vậy bà bầu nên ăn gì? Hãy ăn thực phẩm giàu sắt như thịt bò, thịt lợn, lòng đỏ trứng gà, rau có màu xanh đậm, rau dền, bí ngô, chuối, các loại hạt như đậu tương, lạc, hạnh nhân, óc chó. Nếu bổ sung sắt từ thực phẩm chưa đủ thì mẹ bầu nên bổ sung thêm viên sắt nhưng cần có hướng dẫn của bác sĩ.
Các thực phẩm giàu kẽm phụ nữ 3 tháng đầu thai kỳ nên ăn đó là tôm cua biển, hàu, thịt bò, lợn, gà, trứng; rau xanh như súp lơ xanh, cải xoăn, rau bina, nấm; các loại đậu đỏ, đậu đen, đậu xanh; các loại hạt như hạt điều, lạc, óc chó, chia; thực phẩm khác như gạo lứt, sữa, sữa chua.
Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên mẹ bầu nên bổ sung axit folic 3 tháng trước khi mang thai bằng thực phẩm hoặc viên uống. Axit folic có nhiều nhất trong rau màu xanh đậm như súp lơ xanh, mồng tơi, rau bina, măng tây; trái cây như bơ, dưa vàng, cam, bưởi; thực phẩm khác như gan, lòng đỏ trứng, lạc, vừng, hạt hướng dương, ngũ cốc nguyên hạt. Tìm hiểu thêm 3 tháng cuối thai kỳ
Bà bầu nên ăn gì để tốt cho cả mẹ và thai nhi? Hãy ăn thực phẩm giàu kẽm để giảm chứng nghén, buồn nôn, chán ăn, mệt mỏi, nhiễm trùng, sảy thai, đẻ non, thiếu sữa nuôi con. Thai nhi được cung cấp đủ kẽm sẽ giảm nguy cơ chậm phát triển, suy dinh dưỡng bào thai, dị dạng, nhẹ cân và thấp chiều cao.
Trong giai đoạn mang thai, mẹ bầu cần được bổ sung đầy đủ vitamin, các khoáng chất để mẹ luôn khỏe mạnh và thai nhi phát triển tốt. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, chế độ ăn hàng ngày của mẹ bầu thường chưa cung cấp đủ vitamin, khoáng chất mà cần bổ sung thêm từ nguồn khác như viên uống bổ sung để đảm bảo cơ thể đầy đủ dưỡng chất.
Súp lơ xanh chứa nhiều sắt, axit folic giúp mẹ bầu tránh thiếu máu, phòng ngừa dị tật cho thai nhi. Ăn súp lơ thường xuyên còn giúp ngăn ngừa loãng xương cho mẹ bầu, tốt cho sự phát triển xương, răng của thai nhi vì súp lơ chứa nhiều canxi, magie, kẽm, photpho. Mặt khác, súp lơ xanh chứa nhiều kali giúp bà bầu giảm chứng chuột rút; ngăn ngừa tình trạng cao huyết áp, thừa cân cho bà bầu. Súp lơ chứa nhiều chất xơ giúp mẹ bầu ngăn ngừa chứng táo bón, giàu caroten có thể chuyển hóa thành vitamin A giúp tăng cường thị lực.
Mẹ bầu thiếu canxi sẽ hay mệt mỏi, đau lưng, đau khớp, tê nhức cơ bắp, chuột rút và sau này dễ bị tê chân tay, răng yếu, loãng xương. Còn với thai nhi, thiếu canxi sẽ làm bé bị suy dinh dưỡng ngay từ trong bụng mẹ, bị còi xương bẩm sinh, lùn thấp, biến dạng các xương gây dị hình, chậm mọc răng.
Omega 3 bao gồm 3 dạng: DHA, ALA, EPA và có vai trò đặc biệt quan trọng với bà bầu và thai nhi. Axit béo Omega 3 giúp ngăn ngừa chứng trầm cảm, nguy cơ sinh non, tiền sản giật, bệnh tim mạch cho mẹ bầu. Trong khi đó, Omega 3 giúp thai nhi phát triển trí não, thị giác, tăng khả năng tập trung.
ALA có nhiều trong dầu của các loại thực vật; DHA và EPA có nhiều trong cá và các loại hải sản khác. Bà bầu nên ăn gì để cung cấp đầy đủ Omega 3? Hãy ăn các loại cá như cá trích, cá hồi, cá mòi, hàu, cá thu; rau màu xanh đậm như cải xoong, rau bina, cải chíp, súp lơ xanh; các loại hạt như hạnh nhân, hạt dẻ cười, hạt điều, óc chó, lạc, đậu nành; dầu thực vật như dầu hạt cải, dầu đậu nành, dầu vừng; sản phẩm từ sữa như sữa, sữa chua, phô mai.
Khi mang thai, chị em cần bổ sung các loại vitamin như A, B, C, D, E giúp tăng sức đề kháng, hấp thu các dưỡng chất tốt hơn, có thai kỳ khỏe mạnh và đảm bảo sự phát triển bình thường cho thai nhi. Vitamin A có nhiều trong củ quả màu đỏ hoặc vàng, rau màu xanh đậm; vitamin B, E có trong ngũ cốc, các loại hạt, trứng. Vitamin C có nhiều trong cam, bưởi, quýt, rau xanh; vitamin D có thể bổ sung từ ánh nắng mặt trời, sữa, phô mai, cá thu…
Phụ nữ 3 tháng đầu thai kỳ thai nên ăn gì? Đó là thực phẩm giàu canxi từ động vật như tôm, cua, cá nước ngọt, hải sản, trứng; rau củ như súp lơ xanh, cải chíp, cải bó xôi (rau bina), tỏi tây, khoai lang; trái cây như chuối, cam, kiwi; đồ ăn khác như hạt dẻ, sữa, sữa chua, hạt vừng.
Nếu được cung cấp đủ axit folic sẽ giúp mẹ bầu giảm nguy cơ thiếu máu hồng cầu, sảy thai, sinh non. Đặc biệt, axit folic rất quan trọng đối với sự phát triển của thai nhi, giúp bé phòng ngừa nguy cơ khuyết tật ống thần kinh như thiếu não, não úng thủy, các vấn đề khác như nứt đốt sống, tim bẩm sinh, sứt môi, hở hàm ếch.
Khi mang thai, chị em cần bổ sung các loại vitamin như A, B, C, D, E giúp tăng sức đề kháng, hấp thu các dưỡng chất tốt hơn, có thai kỳ khỏe mạnh và đảm bảo sự phát triển bình thường cho thai nhi.
3 tháng đầu thai kỳ nên ăn thực phẩm giàu đạm để cơ thể đủ chất dinh dưỡng, duy trì năng lượng, ổn định lượng đường trong máu. Khi mẹ được cung cấp đủ chất đạm sẽ tạo điều kiện cho con phát triển tốt, đồng thời ngăn ngừa một số triệu chứng thần kinh bất thường ở thai nhi.
Những thực phẩm giàu đạm bà bầu nên bổ sung ngay đó là đạm động vật gồm thịt, sữa, trứng, tôm, cua, cá, ốc; đạm thực vật như đậu tương, đậu xanh, đậu đỏ, lạc, vừng, trái cây như bơ, chuối, măng cụt…
Một quả trứng gà cung cấp 12 vitamin, các khoáng chất tốt cho bà bầu và thai nhi như vitamin A, D, B2, B6, B12, axit folic, canxi, kali, photpho. Trứng gà còn giàu protein, choline, axit béo omega 3 là những chất rất cần thiết cho sự phát triển não bộ và thị giác của trẻ. Nếu hàm lượng cholesterol bình thường thì mẹ bầu có thể ăn 1 quả trứng mỗi ngày. Nếu lượng cholesterol cao thì bà bầu chỉ nên ăn từ 3 – 4 quả trứng/tuần.
Thiếu sắt làm mẹ bầu mệt mỏi, xanh xao, thiếu máu, chậm tăng cân và dễ bị băng huyết khi sinh. Mẹ thiếu máu sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi, dễ gây sảy thai, thai chết non, suy dinh dưỡng bào thai, đẻ non và sau khi sinh ra chậm phát triển trí não.
Vậy bà bầu nên ăn gì? Hãy ăn thực phẩm giàu sắt như thịt bò, thịt lợn, lòng đỏ trứng gà, rau có màu xanh đậm, rau dền, bí ngô, chuối, các loại hạt như đậu tương, lạc, hạnh nhân, óc chó. Nếu bổ sung sắt từ thực phẩm chưa đủ thì mẹ bầu nên bổ sung thêm viên sắt nhưng cần có hướng dẫn của bác sĩ.
Các thực phẩm giàu kẽm phụ nữ 3 tháng đầu thai kỳ nên ăn đó là tôm cua biển, hàu, thịt bò, lợn, gà, trứng; rau xanh như súp lơ xanh, cải xoăn, rau bina, nấm; các loại đậu đỏ, đậu đen, đậu xanh; các loại hạt như hạt điều, lạc, óc chó, chia; thực phẩm khác như gạo lứt, sữa, sữa chua.
Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên mẹ bầu nên bổ sung axit folic 3 tháng trước khi mang thai bằng thực phẩm hoặc viên uống. Axit folic có nhiều nhất trong rau màu xanh đậm như súp lơ xanh, mồng tơi, rau bina, măng tây; trái cây như bơ, dưa vàng, cam, bưởi; thực phẩm khác như gan, lòng đỏ trứng, lạc, vừng, hạt hướng dương, ngũ cốc nguyên hạt. Tìm hiểu thêm 3 tháng cuối thai kỳ
Bà bầu nên ăn gì để tốt cho cả mẹ và thai nhi? Hãy ăn thực phẩm giàu kẽm để giảm chứng nghén, buồn nôn, chán ăn, mệt mỏi, nhiễm trùng, sảy thai, đẻ non, thiếu sữa nuôi con. Thai nhi được cung cấp đủ kẽm sẽ giảm nguy cơ chậm phát triển, suy dinh dưỡng bào thai, dị dạng, nhẹ cân và thấp chiều cao.
Trong giai đoạn mang thai, mẹ bầu cần được bổ sung đầy đủ vitamin, các khoáng chất để mẹ luôn khỏe mạnh và thai nhi phát triển tốt. Theo các chuyên gia dinh dưỡng, chế độ ăn hàng ngày của mẹ bầu thường chưa cung cấp đủ vitamin, khoáng chất mà cần bổ sung thêm từ nguồn khác như viên uống bổ sung để đảm bảo cơ thể đầy đủ dưỡng chất.
Súp lơ xanh chứa nhiều sắt, axit folic giúp mẹ bầu tránh thiếu máu, phòng ngừa dị tật cho thai nhi. Ăn súp lơ thường xuyên còn giúp ngăn ngừa loãng xương cho mẹ bầu, tốt cho sự phát triển xương, răng của thai nhi vì súp lơ chứa nhiều canxi, magie, kẽm, photpho. Mặt khác, súp lơ xanh chứa nhiều kali giúp bà bầu giảm chứng chuột rút; ngăn ngừa tình trạng cao huyết áp, thừa cân cho bà bầu. Súp lơ chứa nhiều chất xơ giúp mẹ bầu ngăn ngừa chứng táo bón, giàu caroten có thể chuyển hóa thành vitamin A giúp tăng cường thị lực.
Mẹ bầu thiếu canxi sẽ hay mệt mỏi, đau lưng, đau khớp, tê nhức cơ bắp, chuột rút và sau này dễ bị tê chân tay, răng yếu, loãng xương. Còn với thai nhi, thiếu canxi sẽ làm bé bị suy dinh dưỡng ngay từ trong bụng mẹ, bị còi xương bẩm sinh, lùn thấp, biến dạng các xương gây dị hình, chậm mọc răng.
Omega 3 bao gồm 3 dạng: DHA, ALA, EPA và có vai trò đặc biệt quan trọng với bà bầu và thai nhi. Axit béo Omega 3 giúp ngăn ngừa chứng trầm cảm, nguy cơ sinh non, tiền sản giật, bệnh tim mạch cho mẹ bầu. Trong khi đó, Omega 3 giúp thai nhi phát triển trí não, thị giác, tăng khả năng tập trung.
ALA có nhiều trong dầu của các loại thực vật; DHA và EPA có nhiều trong cá và các loại hải sản khác. Bà bầu nên ăn gì để cung cấp đầy đủ Omega 3? Hãy ăn các loại cá như cá trích, cá hồi, cá mòi, hàu, cá thu; rau màu xanh đậm như cải xoong, rau bina, cải chíp, súp lơ xanh; các loại hạt như hạnh nhân, hạt dẻ cười, hạt điều, óc chó, lạc, đậu nành; dầu thực vật như dầu hạt cải, dầu đậu nành, dầu vừng; sản phẩm từ sữa như sữa, sữa chua, phô mai.
Khi mang thai, chị em cần bổ sung các loại vitamin như A, B, C, D, E giúp tăng sức đề kháng, hấp thu các dưỡng chất tốt hơn, có thai kỳ khỏe mạnh và đảm bảo sự phát triển bình thường cho thai nhi. Vitamin A có nhiều trong củ quả màu đỏ hoặc vàng, rau màu xanh đậm; vitamin B, E có trong ngũ cốc, các loại hạt, trứng. Vitamin C có nhiều trong cam, bưởi, quýt, rau xanh; vitamin D có thể bổ sung từ ánh nắng mặt trời, sữa, phô mai, cá thu…
Phụ nữ 3 tháng đầu thai kỳ thai nên ăn gì? Đó là thực phẩm giàu canxi từ động vật như tôm, cua, cá nước ngọt, hải sản, trứng; rau củ như súp lơ xanh, cải chíp, cải bó xôi (rau bina), tỏi tây, khoai lang; trái cây như chuối, cam, kiwi; đồ ăn khác như hạt dẻ, sữa, sữa chua, hạt vừng.
Nếu được cung cấp đủ axit folic sẽ giúp mẹ bầu giảm nguy cơ thiếu máu hồng cầu, sảy thai, sinh non. Đặc biệt, axit folic rất quan trọng đối với sự phát triển của thai nhi, giúp bé phòng ngừa nguy cơ khuyết tật ống thần kinh như thiếu não, não úng thủy, các vấn đề khác như nứt đốt sống, tim bẩm sinh, sứt môi, hở hàm ếch.
Thứ Hai, 4 tháng 6, 2018
Tin Tức Về Khám Sàng Lọc Trước Sinh
khám sàng lọc trước sinh là một xét nghiệm có ý nghĩa tích cực đối với sản phụ. Đây là xét nghiệm nhằm phát hiện các nguy cơ mà thai nhi có thể gặp dị tật bẩm sinh khi sinh ra.
Khi tiến hành xét nghiệm, các bác sĩ lâm sàn sẽ lấy máu của người mẹ mang đi sàng lọc để tìm hiểu nguy cơ về một số triệu chứng bẩm sinh ở thai nhi.
Thời điểm tốt nhất để mẹ bầu làm xét nghiệm là khi mẹ mang thai từ tuần thứ 15 đến tuần thứ 20 của thai kỳ, trong đó thời điểm vàng rơi vào khoảng trung tuần thứ 16 và 18 của chu kỳ.
khám sàng lọc trước sinh là một xét nghiệm hữu ích, nó giúp cho phụ nữ mang thai có thể giảm lo lắng về khả năng trẻ sinh ra bị các dị tật; đồng thời giúp cho thai phụ có cơ hội mang thai hoàn toàn yên tâm ở những lần tiếp theo.
Bên cạnh đó, nếu mẹ bầu thực hiện xét nghiệm trên khi kết quả mang lại là dương tính, thì mẹ có thể chọn lựa việc ngưng quá trình mang thai của mình lại để nuôi dưỡng sức khỏe cho lần sinh tiếp theo. Tránh những trường hợp thai chết lưu, thai phát triển không bình thường lại không được phát hiện kịp thời sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe sinh sản của mẹ bầu.
Khi bà bầu đã gặp phải những trường hợp sau trước khi mang thai thì nên làm xét nghiệm sàng lọc trước sinh như: Gia đình có người từng bị dị tật bẩm sinh ở đời gần nhất; mang thai ở tuổi 35 hoặc muộn hơn 35 tuổi; trước khi mang thai thường sử dụng các thực phẩm chức năng, thuốc uống có ảnh hưởng đến quá trình mang thai; từng bị bệnh tiểu đường… thì nên đi xét nghiệm để các bác sĩ có thể theo dõi được những nguy cơ mà thai nhi có thể phải đối mặt trong suốt thai kỳ.
Một điều lưu ý đối với mẹ bầu là nên chuẩn bị một tâm lý thật thoải mái, một kiến thức đủ rộng để có thể vững vàng trước khi thực hiện xét nghiệm này. Đặc biệt, nếu trường hợp xấu kết quả xét nghiệm là dương tính, thì điều không thể tránh khỏi tâm lý lo lắng, đặc biệt là với những người mong con. Do vậy, mẹ bầu cần phải thật thận trọng và thật tỉnh táo để có thể vững vàng trước mọi tình huống và có hướng xử lý phù hợp. Cũng có những trường hợp ngoại lệ, trẻ sinh ra phát triển bình thường dù trước đó kết quả xét nghiệm là dương tính với dị tật bẩm sinh. Tìm hiểu thêm về siêu âm dị tật thai nhi ở đâu tốt nhất
Hiện nay có một số xét nghiệm sàng lọc trước sinh được sử dụng khá phổ biến là Double test, Triple test, kỹ thuật sàng loc không xâm lấn NIPT. Mẹ bầu có thể thực hiện các phương pháp xét nghiệm sàng lọc này tại các cơ sở y tế, phòng khám chuyên khoa trên khắp cả nước.
Tuy nhiên để có kết quả chuẩn xác nhất, bạn vẫn nên tìm đến những bệnh viện lớn, vì tại đây sẽ có đầy đủ các máy móc cũng như đội ngũ bác sĩ giàu kinh nghiệm. Và chi phí cũng tùy thuộc vào loại xét nghiệm mà mẹ lựa chọn, đối với xét nghiệm sàng lọc Double test, Triple test thì giao động khoảng vài trăm nghìn. Còn với xét nghiệm NIPT, thì có thể lên đến vài triệu đồng. Mức giá này có thể được điều chỉnh theo thời gian, tùy vào bệnh viện công hay bệnh viện tư.
Khi tiến hành xét nghiệm, các bác sĩ lâm sàn sẽ lấy máu của người mẹ mang đi sàng lọc để tìm hiểu nguy cơ về một số triệu chứng bẩm sinh ở thai nhi.
Double test và Triple test là khám sàng lọc trước sinh phát hiện sớm nguy cơ dị tật thai nhi. Xét nghiệm này chỉ cho biết về nguy cơ, chứ không khẳng định là bé có dị tật hay không. Làm xét nghiệm này bạn chỉ cần lấy máu, khoảng 5-7 ngày là có kết quả. Khi kết quả xấu, và trong quá trình siêu âm phát hiện ra nhiều bất thường của thai nhi thì bác sỹ mới chỉ định bạn chọc ối để kiểm tra.
Với những trường hợp sau, mẹ bầu nhất định nên đi làm xét nghiệm sàng lc trước sinh:
– Tiền sử gia đình có dị tật bẩm sinh.
– Mang thai trên 35 tuổi.
– Có sử dụng thuốc hoặc các chất có thể gây hại cho thai.
– Bệnh tiểu đường và có sử dụng insulin.
– Bị nhiễm virus trong thời kỳ mang thai.
– Có tiếp xúc với phóng xạ liều lượng cao.
Nếu bạn khỏe mạnh, gia đình 2 bên không có ai bất thường, không thuộc 1 trong số những đối tượng trên thì có thể không cần thực hiện xét nghiệm sàng lọc trước sinh, nhưng nếu bạn muốn kiểm tra cho yên tâm hơn thì vẫn nên làm. Trong quá trình theo dõi thai nhi, mẹ nên hỏi ý kiến bác sĩ về những xét nghiệm này. Giữ tinh thần thoải mái, tích cực, tránh lo lắng để ảnh hưởng đến cả mẹ lẫn con. Chúc bạn có một thai kỳ khỏe mạnh!
Nếu kết quả khám sàng lọc trước sinh mang lại là dương tính với các dị tật bẩm sinh như down, rối loạn di truyền… thì người mẹ sẽ được bác sĩ đưa ra lời khuyên là có thể tiến hành chọc nước ối để kiểm tra lại một lần nữa về tính chính xác của xét nghiệm. Bởi trên thực tế không có bất kỳ một kết quả nào là tuyệt đối cả, có rất nhiều trường hợp sản phụ sau khi xét nghiệm sàng lọc trước sinh cho kết quả dương tính, nhưng khi chọc nước ối thì lại không mang triệu chứng gì và đứa trẻ sinh ra vẫn khỏe mạnh bình thường.
Thời điểm tốt nhất để mẹ bầu làm xét nghiệm là khi mẹ mang thai từ tuần thứ 15 đến tuần thứ 20 của thai kỳ, trong đó thời điểm vàng rơi vào khoảng trung tuần thứ 16 và 18 của chu kỳ.
khám sàng lọc trước sinh là một xét nghiệm hữu ích, nó giúp cho phụ nữ mang thai có thể giảm lo lắng về khả năng trẻ sinh ra bị các dị tật; đồng thời giúp cho thai phụ có cơ hội mang thai hoàn toàn yên tâm ở những lần tiếp theo.
Bên cạnh đó, nếu mẹ bầu thực hiện xét nghiệm trên khi kết quả mang lại là dương tính, thì mẹ có thể chọn lựa việc ngưng quá trình mang thai của mình lại để nuôi dưỡng sức khỏe cho lần sinh tiếp theo. Tránh những trường hợp thai chết lưu, thai phát triển không bình thường lại không được phát hiện kịp thời sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe sinh sản của mẹ bầu.
Khi bà bầu đã gặp phải những trường hợp sau trước khi mang thai thì nên làm xét nghiệm sàng lọc trước sinh như: Gia đình có người từng bị dị tật bẩm sinh ở đời gần nhất; mang thai ở tuổi 35 hoặc muộn hơn 35 tuổi; trước khi mang thai thường sử dụng các thực phẩm chức năng, thuốc uống có ảnh hưởng đến quá trình mang thai; từng bị bệnh tiểu đường… thì nên đi xét nghiệm để các bác sĩ có thể theo dõi được những nguy cơ mà thai nhi có thể phải đối mặt trong suốt thai kỳ.
Một điều lưu ý đối với mẹ bầu là nên chuẩn bị một tâm lý thật thoải mái, một kiến thức đủ rộng để có thể vững vàng trước khi thực hiện xét nghiệm này. Đặc biệt, nếu trường hợp xấu kết quả xét nghiệm là dương tính, thì điều không thể tránh khỏi tâm lý lo lắng, đặc biệt là với những người mong con. Do vậy, mẹ bầu cần phải thật thận trọng và thật tỉnh táo để có thể vững vàng trước mọi tình huống và có hướng xử lý phù hợp. Cũng có những trường hợp ngoại lệ, trẻ sinh ra phát triển bình thường dù trước đó kết quả xét nghiệm là dương tính với dị tật bẩm sinh. Tìm hiểu thêm về siêu âm dị tật thai nhi ở đâu tốt nhất
Hiện nay có một số xét nghiệm sàng lọc trước sinh được sử dụng khá phổ biến là Double test, Triple test, kỹ thuật sàng loc không xâm lấn NIPT. Mẹ bầu có thể thực hiện các phương pháp xét nghiệm sàng lọc này tại các cơ sở y tế, phòng khám chuyên khoa trên khắp cả nước.
Tuy nhiên để có kết quả chuẩn xác nhất, bạn vẫn nên tìm đến những bệnh viện lớn, vì tại đây sẽ có đầy đủ các máy móc cũng như đội ngũ bác sĩ giàu kinh nghiệm. Và chi phí cũng tùy thuộc vào loại xét nghiệm mà mẹ lựa chọn, đối với xét nghiệm sàng lọc Double test, Triple test thì giao động khoảng vài trăm nghìn. Còn với xét nghiệm NIPT, thì có thể lên đến vài triệu đồng. Mức giá này có thể được điều chỉnh theo thời gian, tùy vào bệnh viện công hay bệnh viện tư.
Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2018
Sàng Lọc Trước Sinh Ở Thai Nhi Bạn Có Biết
Các xét nghiệm này sẽ giúp phát hiện ra bất kỳ vấn đề nào có thể ảnh hưởng đến bé, như dị tật bẩm sinh hoặc bệnh di truyền. Kết quả đó có thể giúp bố mẹ đưa ra quyết định chăm sóc sức khoẻ tốt nhất trước và sau khi sinh con.
Sàng lọc trước sinh là xét nghiệm dành cho các bà mẹ mang thai để biết được thai nhi có mắc những dị tật bẩm sinh liên quan đến bất thường nhiễm sắc thể (NST), như hội chứng Down (trisomy 21), Edwards (trisomy 18), Patau (trisomy 13),...
Các xét nghiệm sàng lọc trước sinh rất hữu ích, nhưng điều quan trọng là có ý nghĩa và giá trị chính xác như thế nào. Một kết quả xét nghiệm dương tính không phải lúc nào cũng có nghĩa là bé sẽ có vấn đề. Bác sĩ sẽ tư vấn cho mẹ các xét nghiệm này có ý nghĩa ra sao và mẹ nên làm gì!
Các bác sĩ đề nghị một số xét nghiệm thường quy trước khi sinh cho tất cả phụ nữ mang thai, nhưng chỉ một số phụ nữ sẽ cần các xét nghiệm sàng lọc trước sinh khác để kiểm tra một số vấn đề di truyền hoặc do nhu cầu của mẹ.
Các bác sĩ cũng có thể sử dụng các xét nghiệm sàng lọc trước sinh để tìm kiếm các dấu hiệu cho thấy bé của mẹ có nguy cơ mắc các rối loạn di truyền hoặc dị tật bẩm sinh hay không. Mẹ không cần phải có những xét nghiệm này, nhưng bác sĩ có thể đề nghị một số xét nghiệm để đảm bảo rằng bé khỏe mạnh.
Các bác sĩ sử dụng xét nghiệm này để tìm DNA bào thai trong máu của mẹ, qua đó kiểm tra xem bé có nguy cơ bị hội chứng Down, trisomy 18 và trisomy 13. Mẹ có thể thực hiện test này sau 10 tuần mang thai. Hiện nay test này đã chứng minh được độ chính xác cao.
Các bác sĩ không khuyên dùng test này cho mọi phụ nữ, thường chỉ những người có thai có nguy cơ cao. Thử nghiệm cffDNA được sử dụng để tầm soát, chứ không phải xét nghiệm chẩn đoán. Nếu có những phát hiện bất thường trong xét nghiệm , thì bác sĩ có thể chỉ định các xét nghiệm xâm lấn hơn bằng cách sử dụng các thủ tục như lấy mẫu gai nhau (CVS) hoặc chọc dò ối để chẩn đoán bất thường nhiễm sắc thể.
Sàng lọc trước sinh là xét nghiệm dành cho các bà mẹ mang thai để biết được thai nhi có mắc những dị tật bẩm sinh liên quan đến bất thường nhiễm sắc thể (NST), như hội chứng Down (trisomy 21), Edwards (trisomy 18), Patau (trisomy 13),...
Các xét nghiệm sàng lọc trước sinh rất hữu ích, nhưng điều quan trọng là có ý nghĩa và giá trị chính xác như thế nào. Một kết quả xét nghiệm dương tính không phải lúc nào cũng có nghĩa là bé sẽ có vấn đề. Bác sĩ sẽ tư vấn cho mẹ các xét nghiệm này có ý nghĩa ra sao và mẹ nên làm gì!
Các bác sĩ đề nghị một số xét nghiệm thường quy trước khi sinh cho tất cả phụ nữ mang thai, nhưng chỉ một số phụ nữ sẽ cần các xét nghiệm sàng lọc trước sinh khác để kiểm tra một số vấn đề di truyền hoặc do nhu cầu của mẹ.
Các bác sĩ cũng có thể sử dụng các xét nghiệm sàng lọc trước sinh để tìm kiếm các dấu hiệu cho thấy bé của mẹ có nguy cơ mắc các rối loạn di truyền hoặc dị tật bẩm sinh hay không. Mẹ không cần phải có những xét nghiệm này, nhưng bác sĩ có thể đề nghị một số xét nghiệm để đảm bảo rằng bé khỏe mạnh.
Các bác sĩ sử dụng xét nghiệm này để tìm DNA bào thai trong máu của mẹ, qua đó kiểm tra xem bé có nguy cơ bị hội chứng Down, trisomy 18 và trisomy 13. Mẹ có thể thực hiện test này sau 10 tuần mang thai. Hiện nay test này đã chứng minh được độ chính xác cao.
Các bác sĩ không khuyên dùng test này cho mọi phụ nữ, thường chỉ những người có thai có nguy cơ cao. Thử nghiệm cffDNA được sử dụng để tầm soát, chứ không phải xét nghiệm chẩn đoán. Nếu có những phát hiện bất thường trong xét nghiệm , thì bác sĩ có thể chỉ định các xét nghiệm xâm lấn hơn bằng cách sử dụng các thủ tục như lấy mẫu gai nhau (CVS) hoặc chọc dò ối để chẩn đoán bất thường nhiễm sắc thể.
Nếu thai kỳ của bạn đã qua 20 tuần thì bạn phải tiến hành sàng lọc trước sinh giữa thai kỳ để phát hiện những bất thường về thể chất của thai nhi.
Nếu bạn nhận được kết quả em bé có nguy cơ thấp thì bạn sẽ không cần phải tiến hành xét nghiệm sau này nữa. Trong trường hợp ngược lại, bạn sẽ phải tiến hành xét nghiệm chẩn đoán như chọc màng ối hoặc lấy mẫu lông nhung màng đệm (CVS). Những xét nghiệm này sẽ cho bạn biết chắc chắn em bé có mắc bệnh hay không. Tìm hiểu thêm về sàng lọc trước sinh ở đâu
Xét nghiệm sàng lọc đánh giá nguy cơ mắc hội chứng Down, Edward và Patau thường được tiến hành vào giữa tuần thứ 10 và 14 của thai kỳ. Xét nghiệm này còn được gọi với cái tên khác đó là xét nghiệm kết hợp bởi xét nghiệm này kết hợp siêu âm độ mờ da gáy và xét nghiệm máu. Siêu âm này được tiến hành cùng thời điểm như siêu âm định kỳ.
Nếu bạn quyết định tiến hành xét nghiệm sàng lọc, bác sĩ sẽ lấy một mẫu máu từ cơ thể bạn. Đối với siêu âm độ mờ da gáy, các bác sĩ sẽ tiến hành đo lượng nước tích tụ sau cổ em bé (hay còn được biết đến với tên gọi mờ da gáy). Những thông tin thu được từ hai xét nghiệm này được sử dụng để đánh giá và đưa ra kết luận về nguy cơ đứa bé mắc hội chứng Down, Edward hay Patau.
Bạn không cần phải luôn luôn thực hiện hết tất cả những xét nghiệm này, quyết định xét nghiệm dựa vào vị trí của em bé trong bụng mẹ. Nếu nghi ngờ, bạn sẽ được yêu cầu tiến hành xét nghiệm sàng lọc máu khác ở tuần thai thứ 14 và 20.
Nếu thai kỳ của bạn đã kéo dài hơn 14 tuần mà vẫn chưa sàng lọc kiểm tra thì bạn phải tiến hành xét nghiệm kết hợp khẩn trương. Bạn sẽ được đề xuất xét nghiệm máu giữa tuần thai 14 và 20 chỉ để sàng lọc đánh giá nguy cơ em bé có mắc hội chứng Down hay không. Xét nghiệm này không cho kết quả chính xác như xét nghiệm kết hợp.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)








